• slider

Bắt đầu từ số không- 5 ngữ pháp tiếng đức cho người mới.

Điều quan trọng là xem ngữ pháp như là các thành phần cấu tạo nên ngôn ngữ nào đó. Bạn cần cam kết là bản thân bạn phải có một vốn từ vựng chắc chắn tốt và bạn không biết cách để xây dựng và kết hợp chúng với nhau. Thì chắc chắn bạn nên học các ngữ pháp xây dựng câu để kết nối chúng thành một câu hoàn chỉnh. Bạn cần phải học thuộc và làm quen với những quy tắc nếu bạn muốn trở thành một người thông thạo tiếng Đức.
Nó có thể không thú vị như khi xem phim Đức hoặc đọc những tiểu thuyết thú vị, nhưng chính xác là những khi bạn bắt tay vào các quy tắc, khi bạn đã thuộc lòng và hiểu các quy tắc đó thì bạn mới có thể đánh giá và hiểu một cách trọn vẹn bộ phim mà bạn đang coi hãy cuốn tiểu thuyết mà bạn đã đọc. Đối với những người mới bắt đầu thì đây là 5 quy tắc ngữ pháp tiếng Đức có giá trị học tập mà bạn cần tham khảo.
 

5 quy tắc ngữ pháp tiếng Đức.
 

1. Giới tính của một danh từ. 
 

Một trong những khác biệt chính giữa tiếng Anh và tiếng Đức là giới tính. Trong tiếng Đức, danh từ là nam tính, nữ tính hoặc trung tính. Ngoài ra, các thể xác định và không xác định (the, a / an) phụ thuộc vào các trường hợp khác nhau. 

Các trường hợp ảnh hưởng đến danh từ và trường hợp chúng thay đổi nếu chúng là đối tượng trực tiếp hay đối tượng gián tiếp. Tùy thuộc vào trường hợp của câu và giới tính của từ, chúng ta có thể thay đổi thể xác định hay không xác định. Bạn có thể giới tính và thể cách ảnh hưởng đến câu như thế nào trong bảng sau.
 
học ngữ pháp tiếng đức
Danh từ trong tiếng Đức.
 
Dưới đây có 5 ví dụ về hành động này: 

Der Hund ist braun. (Con chó có màu nâu.)

Vì Hund là một danh từ nam tính và là đối tượng của câu này, nó phải dùng thể " der".

Ich sehe den Hund. (Tôi thấy con chó.) 

Trong câu con chó là đối tượng gián tiếp do đó đổi " der" thành "den".

Ich kaufe dem Hund das Essen. (Tôi mua thức ăn chó.)

Ở đây, con chó đang ở trong trường hợp điển hình vì nó bây giờ là đối tượng không xác định. Do đó der trở thành dem.

Ich kaufe das Essen des Hunds. (Tôi mua thức ăn của con chó.)

Các trường hợp tương đồng được sử dụng để hiển thị sở hữu như vậy, như thực phẩm thuộc về con chó trong câu ở trên, chúng tôi sử dụng các bài cụ thể nam giới genitive, des. Danh từ sau des thường thêm -s hoặc -s đến cuối, đó là lý do tại sao Hund đã biến thành Hunds.

Den Mann beißt der Hund. (Con chó cắn con người.)

Thoạt nhìn, bạn có thể nghĩ rằng câu nói trên sẽ dịch là "người đàn ông cắn con chó". Hệ thống trường hợp của Đức cho chúng ta thấy sự khác biệt giữa ai và ai đang hành động và ai và cái gì là hành động. (Trong tiếng Anh, không có hệ thống trường hợp, trật tự từ quan trọng hơn bởi vì chúng tôi không có những tín hiệu đó.)

Hãy nhìn lại các câu trên một lần nữa. Bạn nói với chúng ta chúng rất dễ gây lầm lẫn nhưng hãy dành thời gian để học nó vì nó là những điều cơ bản nhất trong tiếng Đức.

>>> Tham khảo thêm: Học thành ngữ tiếng Đức.
 

2. Tính từ kết thúc phải đồng nhất với giới tính và các trường hợp của câu.

 
Không chỉ giới tính và trường hợp các thể cách của câu, mà còn các tính từ kết thúc cho mỗi câu cũng cần phải tìm hiểu. Một lần nữa, giống như các thể xác định hay không xác định có rất nhiều tiện ích để giúp bạn tìm ra các phần kết thức nào bạn cần sử dụng.

Dưới đây là 5 ví dụ thể hiện cho các kiểu tính từ kết thúc khi đứng trong một thể xác định:

Der schwarze Hund hat Hunger. (Con chó đen đang đói).

Khi con chó là nam tính và trong trường hợp đề cử, chúng ta cần phải thêm một e-đến cuối của schwarz (màu đen) khi nó theo sau là một thể xác định.

Ich habe einen schwarzen Hund gefunden. (Tôi tìm thấy một con chó đen.)

Trong câu trên, con chó là đối tượng xác định trong trường hợp gian tiếp và theo sau là thể không xác định, do đó kết thúc là -en.

Das Essen des alten Hunds ist hier. (Thức ăn cho chó già ở đây.)

Các danh từ nam tính giống nhau đòi hỏi tính từ của chúng kết thúc bằng -en.

Ich gebe dem alten Hund das Essen. (Tôi đang cho thức ăn cho con chó già).

Vì chó là đối tượng không xác định trong câu này, đây là trường hợp điển hình để kết thúc bằng -en.

Heißer Tee schmeckt ruột. (Trà nóng rất ngon.)

Nếu không có thể xác định trước danh từ, tính từ kết thúc vẫn cần thay đổi. Trong trường hợp này, trà là nam tính để heiß (nóng) có một kết thúc -er. Thông thường, khi một tính từ nằm trước một thể xác định hay không xác định và đã biết giới tính và trường hợp của câu, tính từ sẽ bổ sung cho sự thiếu hụt này.

Ví dụ, trong der heiße Tee (trà nóng), der đã cho chúng ta thấy rằng danh từ là nam tính và do đó tính từ chỉ mất -e. Tuy nhiên, nếu chúng ta nói heißer Tee (trà nóng), tính từ sẽ mất vì không có thể xác định nào nói với chúng ta về danh từ là nam tính. Quy tắc chung này áp dụng cho kết thúc tính từ đối với trường hợp, số lượng và giới tính.
 

3. Động từ thường nằm ở vị trí thứ hai trong câu.

 
Động từ tiếng Đức là những thứ bướng bỉnh, nó không chịu di chuyển, không nhúc nhít ra khỏi vị trí thứ hai trong câu vốn có của nó. Nhưng, tất nhiên nó cũng có những ngoại lệ trong tiếng Đức trong quy tắc này. Các câu ví dụ sau sẽ nêu rõ hơn:

Ich sehe den Hund. (Tôi thấy con chó.)

Đây là trường hợp cổ điển của động từ, động từ đứng thứ hai sau chủ ngữ.
 
học động từ tiếng đức
Học động từ tiếng Đức.
 
Ich sehe den Hund und ich gebe ihm das Essen. (Tôi thấy con chó và cho nó thức ăn.)

Ở đây chúng ta có hai mệnh đề kết hợp bởi und (và). Nhưng điều đó không thay đổi vị trí của động từ trong hai mệnh đề. Trong cả hai trường hợp, động từ vẫn đứng thứ hai sau chủ ngữ.

Ich gebe dem Hund das Essen, weil er Mũ đói. (Tôi cho chó ăn vì nó đói)

Câu này được tạo thành từ hai mệnh đề, giống như ví dụ trên, tuy nhiên động từ trong câu thứ hai đúng ở cuối. Lý do cho điều này là phần cuối của câu là một mệnh đề phụ.

>>> Tìm hiểu: 6 cuốn sách hay nhất cho những người học tiếng Đức.

Nguyên tắc chính của ngón tay cái với các mệnh đề phụ là sự kết hợp một câu hoàn chỉnh và động từ cuối cùng. Đơn giản chỉ cần đặt, weil (vì) là một trong số ít động từ sẽ luôn luôn gửi động từ sau vào cuối mệnh đề.

Weil ich ein Haustier wollte, kaufte je einen Hund. (Bởi vì tôi muốn một con vật cưng, tôi đã mua một con chó.)

Trong câu này, toàn bộ nguyên tắc " động từ đứng ở vị trí thứ hai" bị đánh bay ra khỏi mặt nước. Nó bắt đầu với một mệnh đề phụ, do đó như được giải thích ở trên, câu sẽ để động từ vào cuối mệnh đề.

Sau đó, chúng ta có cái được gọi là quy tắc "verb verb verb". Sau động từ và dấu phẩy, chúng ta cần động từ từ khoản kế tiếp ngay. Vì vậy trong ví dụ trên, động từ của động từ của chúng ta là wollte, kaufte (wanted, bought).

Ich habe einen Hund gekauft. (Tôi đã mua một con chó.)

Đối với tiếng Đức hiện tại, bạn sẽ cần một hình thức haben hoặc sein cũng như một phân từ quá khứ. Hình thức haben hoặc sein đứng ở vị trí thứ hai, như trong tất cả các câu cơ bản. Nhưng, phân từ quá khứ được được đứng ở vị trí cuối câu.
 

4. Số nhiều được hình thành theo nhiều cách khác nhau.

 
Trong tiếng Anh, hầu như tất cả các số nhiều được hình thành bằng cách thêm "s" vào cuối của từ ban đầu. Trong tiếng Đức, thay vì -s, số nhiều được hình thành bằng nhiều cách khác nhau. Một cách khá phổ biến là thêm một -e. Tuy nhiên, giống như tiếng Anh, có rất nhiều ngoại lệ đối với quy tắc này (chỉ cần nghĩ đến "cá" và "cừu" bằng tiếng Anh). Dưới đây là năm ví dụ nhanh chóng của các dạng số nhiều phổ biến nhất ở Đức:

A) der Hund (dog) → die Hunde (dogs).

B) die Banane (the banana) → die Bananen (bananas).

Nếu một từ kết thúc là -e, thì số nhiều chỉ cần thêm 1 -n vào là được.

C) das Auto (the car) → die Autos (cars).

Bất kì từ nào là từ mượn thì biến thành số nhiều bằng cách thêm -s.
 
học ngữ pháp tiếng đức
Thành thao việc chia sô nhiều cho từ.
 
D) der Mann (the man) → die Männer (men).

Một số nhiều được hình thành bằng cách thêm các kí tự đặc biệt hay thay một kết thúc mới. Giống như trong trường hợp này Mann trở thành Männer.

E) der Vater (the father) → die Väter (fathers).

Nhiều danh từ kết thúc bằng -el hoặc -er tạo ra số nhiều bằng cách thêm một umlaut. Vater trở thành Väter.

Có những thứ khác để thấy được sự thay đổi này theo từng trường hợp cụ thể khác nhau. Ví dụ, trong trường hợp điển hình, Väter sẽ trở thành Vätern.
 

5. " Bạn" là chính thức hay không chính thức.

Có hai hình thức khác nhau của "bạn" bằng tiếng Đức. Nếu bạn đang nói chuyện với người thân, bạn bè hoặc con, bạn sẽ sử dụng hình thức không chính thức. Nếu bạn nói chuyện hoặc viết thư cho ai đó mà bạn không biết, hoặc với một đồng nghiệp tại nơi làm việc, bạn sẽ sử dụng Sie, hình thức chính thức của "bạn".

Ich liebe dich. (Anh yêu em.)

Câu này được hiểu là dạng không chính thức của " bạn".

Geben Sie mir bitte das Essen. (Hãy cho tôi thức ăn.)

Sie chính là " bạn".

Haben Sie schon gegessen? (Bạn đã ăn chưa?)

Hãy nhớ rằng Sie luôn cần một từ vốn có để trở thành "bạn".

Wie geht es Ihnen? (Bạn khỏe không?).

Trong trường hợp điển hình, Sie trở thành Ihnen, cũng cần được viết hoa.

Cuốn sách của Ich hab. (Tôi đã đưa nó cho bạn.)

Đối với các câu không chính thức, chúng ta cần phải sử dụng Dir.

Chúng ta có 5 điều cơ bản trong ngữ pháp tiếng Đức như trên. Có vẻ như khác khó khăn cho bạn trong thời gian đầu, nhưng nếu bạn kiên nhẫn, nó sẽ trở nên dễ dàng hơn. Chỉ cần nhớ tiêng Đức nói rằng Übung macht den Meister, thực hành làm cho bạn hoàn hảo.
Học tiếng Đức